(Xem tiếp kỳ sau) Phan Cẩm Thượng Thể thao & Văn hóa Cuối tuần
Câu thơ này đáng lưu ý hai điểm : đất nước hai trăm năm chính là triều đại của vua Lê, do Lê Lợi thành lập năm 1427, sau khi thắng lợi quân Minh, tính đến thời của Đoàn phu nhân (vợ thứ), năm 1786, chồng bà là Du lĩnh hầu Ngô Phúc Du tử trận, Phạm Đình Hổ thì sinh năm 1768 mất năm 1839.
Nếu một cô gái đã mất trinh trước đêm hôn phối, hôm sau họ tức khắc bị trả về nhà bố mẹ với lễ vật là mâm xôi và cái thủ lợn bị cắt tai. Thí dụ như vua Đinh Tiên Hoàng lập tới bốn bà hoàng hậu. Ông là người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, lấy hiệu là Thọ Mai, thi đỗ tiến sỹ năm 1721, quan chức làm già Hàn lâm thị chế.
Điều này từng được phản chiếu trong các trước tác văn chương và bút ký đương thời. Những sắc tộc không nhập khẩu đạo nho có quan niệm khác, đời sống cởi mở và chặt chịa theo chiều hướng khác, ví dụ các tộc người Thái (bao gồm cả người Thái Lan, Lào, người Thái Việt Nam, người Lự, người Tày, Nùng… những tộc nói tiếng Thái – Tày), các sắc tộc Tây Nguyên không biết đến Tam giáo Nho Lão Phật.
Khi khảo sát đời sống của các sắc tộc trong nước, tôi (Phan Cẩm Thượng) nhận thấy hình như chỉ có người Kinh (Việt) trong khoảng 500 năm qua đề cập nhiều đến vấn đề tiết trinh của người đàn bà. Như Vũ trung tùy bút , Tang thương ngẫu lục và tiếng nói nữ quyền được cất lên một cách sinh động trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương.
Cuốn sách Thọ Mai gia lễ được biên soạn trong thế kỷ 17 – 18, dựa theo Chu Công gia lễ bên Tầu, chứng tỏ các quy chế chính thức về tang ma, hôn nhân nhập cảng vào làng xã cũng khá muộn.
Những cuộc nội chiến và chiến tranh chống Pháp triền miên khiến nhiều đàn ông ra trận lâu ngay và tử trận, người ta rất cần nêu những tấm gương đàn bà như vậy. Cho đến tận thế kỷ 17, khi vua Lê Thần Tông lập bà Trịnh Thị Ngọc Trúc làm chính cung hoàng hậu, trước đó bà đã từng có chồng và bốn con, thì cũng là điều vượt ra khỏi các quy ước xã hội.
Trong thế kỷ 18, những cuộc nội chiến và tranh giành phe phái làm cho giang san trở nên tao loạn, đạo lý tầng lớp sa sút, vấn đề tiết trinh nói trên có vẻ bị lơi lỏng. Nhưng đại khái từ năm 1970, trong rất nhiều cuộc trò chuyện của thanh niên đa số đều nhất trí việc không coi tiết trinh là quan trọng như truyền thống nữa, mà bàn đến đạo đức gia đình mà thôi.
Gia đình chồng sẽ kiểm tra việc này rất kỹ bằng cách xem tướng cô dâu mới trước khi kết hôn và đêm tân hôn. Vấn đề gái trinh và tiết phụ lần nữa được đề cao dưới thời Nguyễn thế kỷ 19, và bị xem xét lại trong phong trào văn hóa mới tiền chiến trước 1945, tức là khi đời sống đô thị phát triển dưới chế độ thực dân Pháp.
Những tập tục của người Trung Hoa được đưa vào Việt Nam về bản chất làm phức tạp hóa và kiên cố làm biến mất các tập tục cũ.
Việc nêu cao tiết hạnh người đàn bà ở đâu cũng thế thôi, nhưng trở thành lý thuyết, quy chế có lẽ đốn bởi đạo nho, với các đề nghị về thân phận của từng giai tầng trong từng lớp. Như vậy cho đến thế kỷ 15, và nhất là thời Hậu Lê thế kỷ 17, 18, người đàn bà giữ tiết trinh cho đến khi lấy chồng là rất quan yếu, nếu họ để mất điều đó thì cũng đồng nghĩa với sự xấu số cả đời.
Đọc trong lịch sử, vấn đề tiết trinh cũng rất ít được đề cập ở xã hội thời Lý Trần, ngay cả vấn đề chính thất và thứ thất (vợ cả và vợ lẽ) cũng rất tơ mơ. Người phụ nữ đó hoặc sẽ ở vậy suốt đời, hoặc đi lang thang làm con ở, nàng hầu chốn tỉnh thành, ngõ hầu mong kiếm được một đấng quân tử khác rộng lòng che chở.
Nhà Nguyễn đã phong bảng vàng (hoành phi) đức hạnh khả phong cho những góa phụ và gia đình phụ nữ nức danh trung trinh thờ chồng. Từ đó thanh niên thả sức “ăn cơm trước kẻng”. Cuốn sách này có trích dẫn một phần từ Hồ Thượng thư gia lễ. Điều này còn kéo dài đến những năm 1980, và hiện tại tất nhiên có thay đổi. Điểm thứ hai, chính là tình hình thế kỷ 18, đạo lý suy vong, sau hai trăm năm Nho giáo được đề cao, còn rất ít tấm gương tiết liệt, mà trường hợp của Đoàn phu nhân là hy hữu.
Theo nhưng tư liệu lịch sử, cuốn Thọ Mai gia lễ được Hồ Sỹ Tân (1690 – 1760) soạn. Có thể coi những quy chế và tập tục về thân phận người nữ giới có từ thời Lê sơ thế kỷ 15 khi đạo nho có địa vị độc tôn trong tư tưởng thời đại.
Họ có những tập quán khác để giữ gìn bản sắc và đời sống gia đình tốt đẹp, và quan trọng nhất là đời sống sau lễ thành hôn, hầu như chơi có gia đình nào rạn nứt cả, chuyện cặp bồ và ly hôn cũng khôn xiết hiếm hoi. Như vậy có thể nói nhiều quy chế hôn lễ tang ma mới đầu được gia đình họ Hồ ứng dụng, sau đó nhân nó thích hợp với đạo nho mà trở nên phổ thông từ giữa thế kỷ 17.
Chúng tôi từng trò chuyện với các già làng người Cơ Tu, họ nói rằng trước 1975, ở đây không có tôn giáo, hay bất cứ đạo nào, ngoài tín ngưỡng bản địa sơ khai, đời sống đó không thành thử mà kém văn minh hơn chỗ khác. Các sắc tộc khác không có những quy định ngặt nghèo về chuyện này. Thả bè chuối trôi sông, một hủ tục trừng phạt người phụ nữ thất tiết. Ông Hồ Thượng thư tên là Hồ Sỹ Dương, người cùng làng với Hồ Sỹ Tân, đỗ tiến sỹ năm 1652, làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình, tước Duệ quận công (theo Thọ Mai gia lễ diễn nghĩa , xuất bản năm 1927, Vũ Hi Tô dịch).
Vấn đề này lại được lặp lại lần nữa trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, khi nhiều đàn ông ra trận mạc biền biệt hàng chục năm trời, rồi nhiều người đi mãi chỉ được biết là đã hy sinh sau hòa bình. Trích trong sách Kỹ thuật của người An Nam , Henri Oger, NXB Thế giới, 2010.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét