Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

"Lạm phát" và "thiểu mẹo hay phát" văn bản pháp lý.

Mặt khác, hiện tượng "thiểu phát", chậm, "nợ đọng" và cả "nợ xấu" trong xây dựng và ban hành đồng bộ các văn bản dưới luật cũng phổ thông không kém. Bởi vậy, cần tăng cường quản lý quốc gia, ngăn chặn cả tình trạng "lạm phát" và "thiểu phát" trong tuốt quá trình xây dựng, ban hành, khai triển, đánh giá và hoàn thiện các văn bản quản lý quốc gia, không thể trì hoãn thêm nữa.

Theo lý thuyết kinh tế, lạm phát là hiện tượng quốc gia phát hành thừa tiền mặt quá mức; còn thiểu phát, ngược lại, là hiện tượng phát hành thiếu và khan hiếm tiền mặt quá mức so với lượng hàng hóa và dịch vụ lưu thông thực tiễn. Văn bản tính lượng thấp làm giảm hiệu lực và hiệu quả quản lý quốc gia. Nhìn vào danh sách số lượng văn bản chỉ dẫn chi tiết thi hành luật còn nợ đọng, thật đáng quan ngại: Cả nước nợ 60 văn bản trong năm 2001; tăng lên 80 trong năm 2002; còn 50 trong năm 2003, và đỉnh cao là 165 văn bản trong năm 2006; sau đó giảm còn 52 vào năm 2007; 45 văn bản năm 2010 và 58 văn bản năm 2011; năm 2013 này còn nợ 93 văn bản.

Cả hai hiện tượng này đối lập nhau về trình bày, không tồn tại đồng thời với nhau, nhưng cùng tạo hệ lụy bị động, hạn chế sự phát triển thường ngày và lành mạnh của cả cộng đồng và mỗi người.

Chính phủ cũng cho biết, có 55,6% các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực, nhưng chưa có quy định nội dung chi tiết, nên chưa đủ điều kiện khai triển. Riêng Cục soát văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) đã phát hiện trên 4,8 nghìn văn bản (18%) sai trái trong 27 nghìn văn bản thuộc thẩm quyền soát và xử lý của mình.

Chúng đề đạt sự lạc hậu về công nghệ quản lý nhà nước; sự thiếu phối hợp, trách nhiệm, tính chuyên nghiệp và năng lực, thậm chí thể hiện lợi. Một mặt, hiện tượng "lạm phát", lạm quyền và ban hành các văn bản kém chất lượng (nội dung khó hiểu, không thực tại, gây phản cảm) trong quy trình soạn thảo văn bản pháp lý nhà nước các cấp là khá phổ quát, kéo dài đáng báo động.

Cục bộ, tư duy nhiệm kỳ của hàng ngũ cơ quan và cán bộ có liên can trong quá trình xây dựng và phê duyệt luật; bắt cả từng lớp phải chờ và trả giá với những hệ lụy "cộng hưởng" khôn cùng tiêu cực, cả trước mắt và lâu dài, cả cấp vĩ mô, lẫn vi mô, cả về kinh tế-chính trị và xã hội.

NGUYỄN TRẦN. Theo báo cáo tại phiên họp sáng 20-9 về kết quả triển khai thi hành các luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII phê chuẩn, thì bình quân một luật phải có 6-7 văn bản hướng dẫn chi tiết thì mới thực hành được.

Đơn vị "nợ" lớn nhất là Bộ công thương nghiệp, với 100% (10/10 văn bản cần ban hành, trong đó có Luật Điện lực); tiếp đến Bộ Giáo dục và Đào tạo nợ 93% (14/15); Bộ Lao độngThương binh và tầng lớp nợ 67% (28/42) và Bộ Tài chính nợ 63% (12/19).

Tình trạng "lạm phát" văn bản sai trái, kém chất lượng song hành cùng tình trạng "thiểu phát" các văn bản chỉ dẫn thi hành luật cần thiết chính là hai lỗ hổng pháp lý và bất cập lớn về hoạt động quản lý nhà nước pháp quyền trong bối cảnh hội nhập. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, ở nước ta dường như chỉ có hiện tượng lạm phát, mà chưa hề có hiện tượng thiểu phát tiền tệ.

Ủy ban pháp luật của Quốc hội khẳng định tỷ lệ nợ đọng văn bản hướng dẫn chi tiết luật hiện là gần 67%. Nhưng việc thiếu văn bản hướng dẫn kịp thời và đồng bộ cũng vô hiệu hóa một luật cấp thiết.

Tuy nhiên, thực tại cho thấy đã và đang song song có cả hiện tượng "lạm phát", lẫn "thiểu phát" trong xây dựng văn bản pháp lý. Trong 10 năm (2003-2013), các cơ quan rà văn bản cả nước đã phát hiện hơn 50 nghìn văn bản sai trái, tức 3% trong khoảng 1,7 triệu văn bản được thu nhận, rà soát.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét