Họ hầu như thường liên quan gì với văn học và hội họa của mẫu quốc cùng thời, tức là lỡ đến mấy nhịp với thời đại, với phương Tây “đương đại”. Cuộc hội nhập trước đây 100 năm bị hạn chế là chậm/lỗi nhịp nhưng ưu việt là nó diễn ra trong một tam giác tinh hoa (bên trao, bên nhận và bên hưởng thụ) đã dẫn tới những thành tựu tinh hoa.
Cạnh thứ ba của tam giác sáng tạo này là công chúng tinh hoa bản địa. Họ là những khách hàng luôn nhất và những cổ động viên nhiệt huyết nhất của cuộc hội nhập. Từ ngôi trường “thấp” - bé này 20 năm sau xuất hiện vô thiên lủng các danh họa và một truyền thống hội họa mới của Việt Nam. Ngày nay, tiếc thay, tầng lớp sinh viên học sinh không còn đảm đang vai trò then chốt này nữa.
Sau khi tàu chiến Pháp nổ súng vào Đà Nẵng rồi Hà thành thất thủ và Cần Vương thất bại là những thập niên đầu thế kỷ 20, hội nhập thành công văn hóa Pháp - tây thiên, tạo ra hầu hết các truyền thống văn hóa cận đại của giang sơn. Monet sư tổ môn phái hội họa ấn tượng được sờ soạng sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thành lập ở Hà Nội một năm trước đó tôn sùng.
Ngay với các loại thể đại chúng nhất như kiến trúc, báo chí, kịch nghệ, tiểu thuyết “ba xu”, thời trang, nhiếp ảnh, tiêu khiển, thể thao… thì công chúng này vẫn là được lựa chọn so với mặt bằng phổ biến toàn quốc. Việc so sánh nó với “hoàn cảnh hậu hiện đại” bữa nay chắc sẽ không vô bổ. Các ngành khác cũng vậy hoặc còn “chậm trễ” hơn.
Đã có độ lùi của lịch sử và sự sàng lọc của thời gian cũng như cuộc sống. Tuy nhiên nhìn cả từ hai phía Pháp hay Việt họ đều là tầng lớp ưu tú, được lựa chọn, élite - tinh hoa, là những nhóm nhỏ những người trẻ thông minh, nhân kiệt, máu nóng và có học nhất ở các thành thị thực dân địa đang định hình.
Nhiều khi chuyện rất nhỏ mà tác động mạnh như cái khuy bấm tẹo thổi bay hương đồng gió nội “làm khổ” ông Nguyễn Bính hoặc đại trà bùng nổ như com-lê, áo dài, cải lương, đờn ca tài tử… Việc nghiên cứu công chúng về cơ cấu, đặc thù và cách thức thu nhận chắc sẽ làm minh bạch nhiều quãng lờ mờ của tiến trình văn hóa đầu thế kỷ trước. Có cảm tưởng như 100 năm sau cảnh ngộ - khung cảnh - tính chất hội nhập ấy đang lặp lại với quy mô thuộc tính mới.
Thực tế là với xã hội Việt Nam các nhà văn hóa văn nghệ ấy và những tác phẩm của họ là tiên phong, tiến bộ, còn hội nhập với nước mẹ họ chỉ là tỉnh lẻ, ngoại biên, là các sản phẩm thực dân địa hạng hai.
Nòng cột đáng để ý nhất của công chúng thời này là xã hội “tiểu tư sản học trò” đầy tinh thần hiếu tri, hướng thượng ở các thị thành, con em của xã hội trung lưu mới nổi trong xã hội.
Nhà bút pháp Victor Hugo mất năm Hồ Biểu Chánh sinh (1885, theo khai sinh). Có thể giả thiết như vậy vì nếu 95% dân Việt mù chữ và ẩn núp, cố thủ sau lũy tre làng thì chỉ chưa tới 5% thị dân biết chữ là công chúng, hưởng thụ các thành tựu hội nhập của hai giới tinh hoa kia. Chỉ sau khi các thành quả hội nhập được thẩm thấu bởi lớp công chúng tinh hoa này chúng mới thấm xuống dân nghèo và nông thôn chân đất - răng đen - mắt toét… để làm đổi thay văn hóa đại chúng.
Năm 1910/12 cụ Chánh viết các tiểu thuyết trước tiên và phóng tác “Những người khốn khổ” vào năm 1926 cũng là năm mất của C. Những người thầy gián tiếp của họ là các tinh hoa của văn hóa văn nghệ phương Tây, các bậc thầy kinh điển đã quá khứ thuộc di sản kiêu hãnh của phương Tây… Còn các thầy trực tiếp của họ ở thực dân địa cũng là các nhà quy hoạch, kiến trúc sư, kỹ sư, họa sĩ… anh tài élite bậc nhất đương thời.
Hồ Biểu Chánh du nhập và thực hiện nhiều loại thể Tây phương (báo chí, phê bình, khảo luận, truyện ký, tiểu thuyết…) với hơn 100 cuốn (65 tiểu thuyết) tạo ra cả một bách khoa thư về tầng lớp “Nam Kỳ”, thúc đẩy sự phát triển Việt văn/Việt ngữ, thậm chí đến nay còn đủ sức sinh ra cả một “dòng phim Hồ Biểu Chánh”! Họa sĩ Lê Phổ cùng các đồng nghiệp trẻ của mình cũng đều chỉ “hội nhập” với các bậc tiên sư tinh hoa trước mình vài thế hệ.
Như vậy cả hai phía tạm gọi phía trao và phía nhận đều mạnh tiềm lực dự trữ của hai nền văn hóa sẽ hội nhập với nhau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét